Rượu nấu ăn thường dùng để chỉ loại rượu nho rẻ tiền hoặc rượu gạo trong ẩm thực Tàu và các nước Đông Á khác được dùng như một thành phần trong thực phẩm chứ không phải là đồ uống.
Ở Tàu, loại rượu hoàng tửu (nồng độ cồn dưới 20%) thường được sử dụng để nấu ăn, đặc biệt là loại rượu Thiệu Hưng được làm từ gạo nếp và men đỏ, có nồng độ cồn khoảng 16%.
Ở Mỹ, rượu nấu ăn thường là rượu nho được được pha thêm muối và một số chất bảo quản không có trong rượu uống thông thường. Việc cho muối trong rượu nấu ăn là để ức chế sự phát triển của vi sinh vật tạo ra axit axetic (làm rượu chua). Rượu nấu ăn ở Mỹ được xem là nặng độ hơn rượu vang uống thông thường vì rượu vang thông thường có nồng độ cồn là 12-15%.
Ở Nhật, rượu nấu ăn thường là rượu mirin, cũng làm từ gạo như rượu đế Việt Nam hay rượu sake nhưng nồng độ rượu thấp (khoảng 14%) và nồng độ đường cao. Rượu mirin cũng thường được cho thêm muối (1,5%) để tránh thuế (vì rượu nấu ăn không bị đánh thuế như rượu uống thông thường).
Ở Hàn Quốc, loại rượu gạo trắng cheongju (nồng độ cồn 14%) cũng được sử dụng trong nấu ăn.
Ở các nước khác, rượu sherry được sử dụng để nấu ăn. Rượu sherry nấu ăn là loại rượu sherry (rượu nho trắng pha thêm rượu có nồng độ còn cao) chất lượng thấp có thêm muối. Nồng độ cồn có thể khác nhau giữa các nhãn hiệu, nhưng thường là từ 14% - 17%.
Ở Việt Nam, rượu đế thường dùng để khử mùi hôi của thịt, đặc biệt là ở khâu chần thịt vì mục đích chính là để chất cồn trong rượu khử mùi. Tuy nhiên, rượu đế có nồng độ cao (khoảng 35%), nên dùng nấu ăn thì cần giảm nồng độ. Ở Việt Nam, các loại rượu thường có nồng độ cồn cao, loại nhẹ độ nhất là rượu cần Tây Nguyên nhưng nồng độ khá thấp (9%). Nếu bạn thích rượu có hương vị, bạn có thể thử một số sản phẩm rượu khác rượu nếp cẩm (tầm 25%), rượu nếp than, rượu táo mèo, rượu mật ong, rượu sim... Những loại rượu này nhìn chung nhẹ độ hơn rượu đế, nhưng vẫn còn khá cao so với nồng độ cồn chung thường thấy ở các loại rượu nấu ăn.