Ở Việt Nam, ghẹ được phân bố ở khắp các vùng biển đến độ sâu 50-100m và cửa sông, đáy cát bùn từ Bắc vào Nam. Ban đêm ghẹ sống sát đáy, ban ngày bơi lên. Một số loại ghẹ có giá trị xuất khẩu chính của Việt Nam hiện nay thường gặp là: Ghẹ xanh (Green swimming crab), có tên khoa học Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766). Ghẹ xanh thường có vỏ màu xanh, có các chấm trắng. Ghẹ ba chấm, ghẹ ba mắt (Three spots swimming crab), tên khoa học Portunus sanguinolentus (Herbst, 1796). Ghẹ đốm, ghẹ cát (Gazami swimming crab), có tên khoa học Portunus trituberculatus (Mier, 1876).
Trong 100g thịt ghẹ có chứa các chất sau: Nước: 75,5g, protein: 19,9g, lipid: 0,5g, glucid: 2,2g, tro: 1,9g; các chất khoáng: Ca (calcium): 134mg, P (phosphorus): 180mg, các vitamin: vitamin B1: 0,04mg, vitamin B2: 0,07mg, vitamin PP: 3,9mg. Ngoài ra còn có magnesium, kẽm, đồng, selenium, acid béo Omega-3 và Omega-6, là 2 loại acid béo có khả năng làm giảm lượng mỡ triglycerides trong máu, bảo vệ tim và giúp kìm hãm, làm chậm lại sự phát triển của các mảng vữa động mạch, ngăn ngừa nguy cơ dẫn đến chứng xơ vữa động mạch và chứng đột quỵ. Chất kẽm và vitamin C trong ghẹ giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, có ích cho hoạt động của tuyến giáp. Cùng với vitamin C, kẽm hỗ trợ quá trình hồi phục của vết thương và sự phân chia của tế bào. Kẽm còn có tác động tới khả năng về vị khác và khứu giác của cơ thể. Ngoài ra, kẽm còn là thành phần quan trọng tạo nên tinh dịch, tác động đến sự tiết hormon sinh dục ở nam giới
Chuyên mục Gia Chánh là nơi thảo luận và cung cấp hướng dẫn của chuyên gia về các vấn đề nấu ăn cụ thể của bạn để giúp mọi người ở mọi trình độ kỹ năng trở thành đầu bếp giỏi hơn, nâng cao hiểu biết về nấu ăn và chia sẻ kiến thức ẩm thực quý giá.
Lưu ý khi đăng câu trả lời trong mục Gia Chánh: