Khổ qua (苦瓜) thực chất là cách nói âm Hán-Việt của mướp đắng trong đó khổ (苦) là đắng, còn qua (瓜) là để chỉ các loại quả bầu, bì, mướp, dưa nói chung. Trong tiếng Hán, không có từ vựng riêng biệt cho các loại quả như bầu, bí, mướp và dưa, thậm chỉ cả những cây thuộc họ chung với những loại trên như chanh dây hay lạc tiên thì cũng gọi là "qua" hết. Ví dụ: đông qua (bí đao), hoàng qua (dưa chuột, dưa leo), nam qua (bí ngộ, bí đỏ), phật thủ qua (su su), tây qua (dưa hấu), ty qua (mướp), xà qua (mướp rắn hay bầu rắn)...
Chữ "khổ qua" này được người dân Nam Bộ đọc trệch đi thành "hủ qua". Ngoài ra, người Nam Bộ phát âm chữ "qua" và chữ "hoa" giống nhau nên có thể có những biến thể trong cách viết. Cách viết chuẩn vẫn là "khổ qua".
Món canh khổ qua dồn thịt là một món ăn Tết người Quảng Đông nên có thể món này đã phổ biến ở Nam Bộ khi nhóm người Minh Hương từ vùng Quảng Đông sang Nam Bộ khai phá.